Tin hoạt độngĐoàn thanh niên

KHÂM PHỤC NỮ HỌC SINH TÀN TẬT, NHÀ NGHÈO VƯỢT KHÓ ĐỖ ĐẠI HỌC

Em là Trần Thị Phúc Trân (sinh 1994), cựu học sinh lớp 12A4 Trường THPT Cái Bè (huyện Cái Bè, Tiền Giang). Với nghị lực bản thân và được sự động viên của gia đình, thầy cô, Trân đã không ngừng phấn đấu học tập nên suốt thời gian học phổ thông, em luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi toàn diện.

 Đến trường bằng đôi nạng gỗ

Cuối năm 2008 khi Trân học lớp 8 thì thấy chân trái thường hay bị đau nhức, gia đình đưa em đến bệnh viện huyện rồi sau đó chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM thăm khám. Tại đây, các bác sĩ chẩn đoán chân trái của em bị SARCOM xương chày, cần phải cắt bỏ chân trái, nếu không phải tháo bỏ khớp háng. Lúc đó gia đình sợ Trân buồn, ảnh hưởng đến việc học nên giấu em. Mãi đến ngày em lên bàn mổ, gia đình mới cho em biết…

Ngày lên bàn phẫu thuật, Trân khóc ròng. Em bảo: “Khi biết được sự thật về căn bệnh của mình, em cảm thấy tất cả như sụp đổ, mọi hi vọng, mọi điều tốt đẹp của cuộc sống như muốn rời bỏ em. Đó là một cú sốc quá lớn với em, chưa bao giờ em nghĩ mình sẽ bị tàn phế như thế…!”.

Ngày xuất viện về nhà, em không đủ can đảm để soi gương vì thân hình xác xơ, tiều tụy và mái tóc dài thướt tha đã rụng gần hết. Sau khi bị cắt chân, việc đi đứng của em hết sức khó khăn. Trân phải nghỉ học mất 6 tháng để điều trị bệnh (xạ trị và vô hoá chất) cũng như tập đi. Việc đi đứng của Trân từ đó bắt đầu dựa vào đôi nạng gỗ.

Bà Trần Thị Hai - mẹ của Trân cho biết: “Chính nhờ sự động viên tinh thần của thầy cô Trường THCS Hiệp Đức và các bạn nên cháu Trân phấn chấn trở lợi, cháu nó tự tin và trở lại trường, tiếp tục việc học. Tuy nhiên, cha cháu bận việc làm thuê, nhà lại không có xe máy làm phương tiện đưa đón nên ban đầu việc đến trường của Trân vất vả lắm. Cũng may nhờ thầy Lê Văn Tư (giáo viên dạy Hóa của trường, nhà gần em Trân) thầy cho cháu đi nhờ đến trường mỗi ngày. Nhờ đó, cháu nó mới có cơ hội đỗ đại học như hôm nay”.

Dù nghỉ học khá lâu nhưng khi trở lại trường, Trân vẫn học tốt và vẫn giữ vững danh hiệu học sinh giỏi. Kỳ thi tuyển sinh 10, em thi đỗ vào Trường THPT Cái Bè vượt hơn 10 điểm so với điểm chuẩn. Đến học ở Trường THPT Cái Bè, em mừng lắm nhưng đi liền với niềm vui là một sự thử thách không nhỏ với em.

Con đường đến trường khoảng 8km quanh co khúc khuỷu, phải qua 4 cây cầu, lại còn phải chịu cảnh “đò ngang, cách trở” khi phải qua một cái phà. Trân sợ nhất là những lúc xuống phà, vì lúc xuống dốc thoai thoải, lúc lên phà thì gập ghềnh, cheo leo… Phà đông, chân yếu nên em rất khó xoay chuyển, và sợ mình ngã xuống sông.

Đôi nạng gỗ giúp em có chỗ tựa, cái chân nhân tạo giúp em lên xuống cầu thang thuận tiện hơn. Trân hóm hỉnh cho biết: “Các bạn em đến trường bằng 2 chân, còn em đến trường bằng cả 4 chân (2 chân gỗ, 1 cái chân nhân tạo và 1 cái chân còn lại của Trân) nên dù khó khăn thế nào em phải cố gắng hết sức để không phụ lòng cha mẹ, thầy cô đã luôn sát cánh với em thời gian qua.

Ước ao có chân giả mới

Nhà nghèo, cha mẹ Trân phải chạy ăn từng bữa đã khó, bệnh tật của Trân lại nghiêm trọng nên gia đình càng khó khăn hơn. Thương con, cha mẹ Trân phải chạy vạy vay mượn của bà con được 70 triệu đồng và cầm luôn miếng đất để chữa bệnh cho Trân.

Bởi thế, thương cha mẹ vất vả nên sau giờ học, Trân giúp mẹ giặt giũ quần áo, có khi là nấu nướng. Ngoài ra, do Trân khéo tay nên em còn nhận kết cườm cho một cơ sở may gia công và em còn nhận dạy kèm cho những đứa trẻ gần xóm để kiếm thêm chút tiền, dành dụm cuối tháng đến bệnh viện để tái khám.

Nhận xét về Trân, thầy Trần Thanh Cảnh - giáo viên dạy Văn của em cho biết: “Trân là một học sinh có một nghị lực vượt khó phi thường. Nhà nghèo, bản thân lại bệnh tật nhưng em vẫn cố gắng học tốt. Em đáng là một tấm gương để các em học sinh học hỏi…”.

Mơ ước của Trân là trở thành một cô giáo, nhưng lúc nộp hồ sơ thi ĐH, em dự định nộp vào trường sư phạm, nhưng nghe mọi người bảo trường Sư phạm không tuyển người bị khuyết tật, nên em chọn ngành Kế toán, vì Trân nghĩ nghề này phù hợp với điều kiện sức khỏe của em.

Khi hỏi về ước mơ của em, Trân trả lời thật giản dị: “Nếu em có cơ hội học ĐH thì ở môi trường này em phải đi đến lớp nhiều hơn. Bởi thế em ước được thay chiếc chân giả khác, vì chiếc chân giả này đã lâu (từ năm lớp 9) nó đã chật cứng, khi gắn vào đùi nó rất đau, nên việc đi lại của em rất khó khăn, nhất là lúc lên xuống cầu thang…”.

Mẹ của Trân cho biết thêm: “Thấy cái chân giả của con đã chật cứng rồi vợ chồng tui định vay tiền mua cái chân khác cho cháu (khoảng 15 triệu đồng), nhưng cháu sắp làm hồ sơ nhập học rồi, tiền bạc lại eo quá nên dành tiền cho cháu Trân làm hồ sơ nhập học trước. Có lẽ thời gian đầu, cháu phải đến trường bằng đôi nạng gỗ rồi”.

Được biết anh trai lớn của Trân đang đi bộ đội. Chi tiêu của gia đình phụ thuộc vào số tiền làm thuê của ông Trần Văn Hiền - ba của Trân và 180.000 đồng tiền trợ cấp người tàn tật của Trân phải trích ra một phần để trả nợ hàng tháng (số nợ mấy năm trước mà nhà đã vay để chữa bệnh cho Trân), rồi hàng tháng cũng phải gom góp để Trân đi tái khám, mỗi tháng ít nhất cũng phải 500 - 700 ngàn đồng. Vợ chồng ông Hiền dè sẻn lắm nhưng cũng vẫn thiếu trước hụt sau…

10 HÌNH TƯỢNG PHỤ NỮ VIỆT NAM TIÊU BIỂU

       Với hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam sinh ra không biết bao nhiêu người con ưu tú của đất nước trong đó phụ nữ chiếm một phần đáng kể. Nhân ngày truyền thống phụ nữ Việt Nam 20/10, Ban Biên tập website xin giới thiệu 10 hình tượng phụ nữ đã đóng góp một phần không nhỏ trong công cuộc dựng nước, giữ nước cũng như tôn tạo và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay.

       1. Hai Bà Trưng

       Hai Bà Trưng là cái tên mà người Việt Nam qua nhiều thế hệ gọi tên hai người phụ nữ vốn là hai chị em ruột với niềm tự hào sâu sắc

       Chị là Trưng Trắc, em là Trưng Nhị. Lịch sử và truyền thuyết kể rằng hai chị em  vốn dòng dõi họ Hùng - một trong dòng họ làm Vua tổ của dân tộc Việt Nam nay thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Mẹ Hai Bà Trưng là bà Man Thiện sớm goá bụa song đã nuôi dạy con cái theo tinh thần thượng võ và yêu nước. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con trai một lạc tướng huyện Chu Diễn bị giặc ngoại xâm giết hại. Trước cảnh nước mất nhà tan, Trưng Trắc cùng em Trưng Nhị quyết tâm tiến hành khởi nghĩa “đền nợ nước, trả thù nhà”.

       Mùa xuân năm 40, Hai Bà Trưng lập đàn thờ trên cửa sông Hát truyền lệnh khởi nghĩa. Nhân dân các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố nhất tề nổi dậy hưởng ứng cuộc đấu tranh giải phóng đất nước Hai Bà lập nên vương triều mới. Trưng Trắc xưng hiệu là Trưng Vương.

       Hai Bà đã thắp lên ngọn lửa chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Quyền tự chủ đất nước do Hai Bà mang lại dù ngắn ngủi (từ năm 40 đến 43) song Hai Bà đã khắc hoạ vào lịch sử và tâm thức người dân Việt Nam tấm gương trung nghĩa, anh hùng làm vẻ vang cho nữ giới và dân tộc.

       Qua hàng ngàn năm lịch sử dân tộc, Hai Bà được mọi thời đại đánh giá là tấm gương anh hùng liệt nữ, niềm tự hào của phụ nữ và đất nước. Đến nay, Hai Bà vẫn được bao phong đời đời, khói hương không dứt tại các đền thờ Hai Bà tại các di tích khởi nghĩa và liên quan đến cuộc đời Hai Bà như Hát Môn, Hạ Lôi, Đồng Nhân. Suốt gần 2000 năm qua, tấm gương của Hai Bà được truyền tụng từ em bé hơi sữa đến cụ già tóc bạc. Hai Bà đã trở thành hình tượng lịch sử, và hoá sau khi chết. Hai Bà đã không chết mà đã “hoá” bay về trời trở thành thần minh, có truyền thuyết nói Hai Bà lên núi Thường Sơn, hoá thân ở đó. Có bản nói sau khi thất trận, để khỏi rơi vào tay giặc Hai Bà nhảy xuống sông Hát tự vẫn hoá thành hai tảng đá trắng trôi về bãi Đồng Nhân (nay là phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng) đêm đêm thường phát sáng rực rỡ. Vùng Hát Môn - nơi phát tích khởi nghĩa có truyền thuyết cho rằng, khi Hai Bà rút quân về cửa Hát, trước lúc gieo mình xuống sông để giữ trọn khí tiết, mỗi Bà ăn một quả muỗm và nhả hạt mọc lên hai cây muỗm trước cửa đền Hát Môn ngày nay. Dân quen gọi là cây muỗm Hai Bà.

       Trong lịch sử văn hoá dân tộc Việt Nam, Hai Bà Trưng đã được truyền thuyết dân gian tiếp nối qua nhiều đời và là một chân lý chói ngời trong đời sống tâm linh người Việt. Khi nói đến phụ nữ Việt Nam nêu gương sáng và là niềm tự hào của đất nước, người Việt Nam không quên nhắc đến Hai Bà Trưng.

       2. Triệu Thị Trinh (Bà Triệu)


“Muốn coi lên núi mà coi
Có Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”.

       Khi nói đến gương anh hùng liệt nữ, đến truyền thống đấu tranh xâm lược của ngoại bang, người Việt Nam qua nhiều thời đại không quên nhắc đến cái tên Bà Triệu bên cạnh các gương liệt nữ khác như Hai Bà Trưng...

       Triệu Thị Trinh sinh ngày 2 tháng 10 năm 226 (Bính Ngọ) tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá trong một gia đình hào trưởng. Triệu Thị Trinh là một phụ nữ có tướng mạo kì lạ, người cao lớn vú dài năm thước. Bà là người tính tình vui vẻ, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, trí lực hơn người. Truyền thuyết kể rằng, có lần xuất hiện một coi voi trắng một ngà phá phách ruộng nương, làng xóm, làm chết người. Triệu Thị Trinh dũng cảm cầm búa nhảy lên đầu giáng xuống huyệt làm con voi lạ gục đầu xin quy thuận.

       Khi nhà Ngô xâm lược đất nước gây nên cảnh đau thương cho dân chúng, khoảng 19 tuổi Triệu Thị Trinh bỏ nhà vào núi xây dựng căn cứ, chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc. Khi anh trai nhắn về nhà chồng, bà đã trả lời tỏ rõ khí phách của mình: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng là tì thiếp người ta”. Truyền thuyết kể rằng, năm 248, khi Triệu Thị Trinh khởi nghĩa, trời đã sai đá núi loan tin tập hợp binh sĩ trong vùng. Đêm khuya từ lòng núi đá phát ra rằng:

“Có Bà nữ tướng

Vâng lệnh trời ra

Trị voi một ngà

Dựng cờ mở nước

Lệnh truyền sau trước

Theo gót Bà Vương”.

       Theo đó, dân chúng trong vùng hưởng ứng nhiệt liệt, có người mang theo cả bộ giáp vàng, khăn vàng.... dâng cho bà. Anh trai bà là Triệu Quốc Đạt được tôn làm chủ tướng. Bà Triệu là Nhuỵ Kiều tướng quân (vị tướng yêu kiều như nhuỵ hoa). Khi ra trận, Bà mặc áo giáp vàng, chít khăn vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi một ngà. Quân Bà đi đến đâu dân chúng hưởng ứng, quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Vương đánh giặc.

       Sau hàng chục trận giao tranh với giặc, trận thứ 39, anh trai bà là Triệu Quốc Đạt tử trận. Bà Triệu lên làm chủ tướng và lập nên một cõi giang sơn riêng vùng Bồ Điền khiến quân giặc khó lòng đánh chiếm. Biết bà yêu sự sạch sẽ, ghét tính dơ bẩn, quân giặc bố trí một trận đánh từ tướng đến quân đều loã thể. Bà không chịu được chiến thuật đê hèn đó phải lui voi giao cho quân sĩ chiến đấu rồi rút về núi Tùng. Bà qùy xuống vái trời đất: “Sinh vi tướng, tử vi thần” (sống làm tướng, chết làm thần) rồi rút gươm tự vẫn. Sau khi bà mất dân vùng Bồ Điền, Phú Điền vẫn nghe trên không trung tiếng cồng thúc quân, voi gầm, ngựa hí.

       Đến nay chuyện Bà Triệu từ thế kỷ thứ II vẫn còn hằn đậm trong tâm thức mỗi người Việt Nam với lòng ngưỡng mộ và tự hào. Lăng và đền thờ Bà vẫn còn mãi với thời gian tại huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá là di tích lịch sử quan trọng của quốc gia, là bằng chứng về niềm tự hào một người phụ nữ liệt oanh của dân tộc Việt Nam.

       3. Bùi Thị Xuân

       Nữ tướng Tây Sơn có tài về quân sự, lập nhiều chiến công đánh quân Nguyễn Ánh, nổi tiếng về khí tiết anh hùng bất khuất. Bà là cháu gái Bùi Đắc Tuyên, Thái sư thời Sơn Tây, vợ Trần Quang Diệu, võ tướng trụ cột của triều đình Tây Sơn, quê ở Quy Nhơn, Bình Định.

       Năm 1801, thừa lúc đại binh Tây Sơn do Trần Quang Diệu chỉ huy đánh vây thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh bất ngờ đánh úp kinh đô Phú Xuân, Bùi Thị Xuân phò tá Quang Toản rút ra Bắc rồi cùng với vua, huy động ba vạn quân ở Hà Bắc, tổ chức cuộc phản công đánh vào phía nam sông Gianh.  Lâm trận, Bùi Thị Xuân thường mặc sắc áo đỏ, cưỡi voi đốc chiến. Cuộc phản công thất bại, quân sĩ dưới quyền chỉ huy của Bùi Thị Xuân đã để lại một tấm gương chiến đấu anh dũng.

       Trên pháp trường, Nguyễn Ánh đã dùng mọi thủ đoạn tàn bạo để trả thù gia đình bà. Chồng bà là thiếu phó Trần Quang Diệu, bà và con gái 14 tuổi đều bị bắt, người bị chém, người bị voi dày.

       Trước cái chết, bà tỏ rõ khí phách hiên ngang, để lại sự kính phục, cảm mến của nhân dân qua bài vè “Bà thiếu phó”.

       4. Bà chúa thơ Nôm
       (Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương (cuối XVIII - đầu XIX) của Việt Nam)

       Nói đến Hồ Xuân Hương, người dân Việt Nam thường nghĩ đến một cá tính độc đáo, một bản lĩnh khác thường mà nhà thơ Xuân Diệu gọi là “kì nữ”. ở cái thời mà “giang sơn” của người đàn bà Việt Nam chỉ quẩn quanh nơi buồng the, bếp núc thì Xuân Hương lại muốn là con người của trời đất bốn phương, gót lãng du thường lui tới đề thơ ở biết bao thắng cảnh nổi tiếng trên miền Bắc Việt Nam.

       Đến nay, theo các nguồn tư liệu được minh định kĩ lưỡng nhất, Hồ Xuân Hương sống khoảng cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, là con ông đồ nghèo Hồ Phi Diên, quê gốc ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và bà mẹ họ Hà, người xứ Kinh Bắc xưa. Bà là người thông minh, ham thích giao lưu bạn bè, song đường tình duyên gặp nhiều éo le, ngang trái: hai lần lấy chồng thì cả hai đều phải làm lẽ và chịu cảnh góa bụa.

       Với nhiều tác phẩm thơ Nôm, thi sĩ Hồ Xuân Hương đã được bình chọn là Bà Chúa Thơ Nôm trong nền văn học Việt Nam. Thế giới nội tâm trong thơ nữ sĩ khởi nguồn từ thân phận người phụ nữ: những nỗi buồn đơn côi và tấn bi kịch, những khát khao không được thoả nguyện, những cảnh ngộ trớ trêu, thậm chí đắng cay chua chát. Hồ Xuân Hương là một nhà thơ đầy cá tính, khẳng định mạnh mẽ cái “tôi”, đồng thời dám bộc lộc cảnh ngộ riêng và thái độ ứng xử của chính bản thân mình. Thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói khinh thị, thách thức ngạo đời, tiếng nói chiến đấu, đồng thời còn tiềm ẩn nỗi khát khao giao cảm với đời, mong cầu những điều tốt đẹp ở con người. Thơ Hồ Xuân Hương biểu hiện sinh lực của cả một dân tộc bị dồn nén, ức chế lâu ngày trong nền luân lí trái tự nhiên, giả đạo đức, phi nhân văn, đã tìm cách bật trở lại, chống trả lại một cách quyết liệt. Thơ của bà còn cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của những người đàn bà phải lấy lẽ, phải chịu cảnh goá bụa, cô đơn. Cũng vì lẽ đó, Xuân Hương quyết đứng ra minh oan chiêu tuyết cho những cô giá “không chồng mà có chửa”, đồng thời lên án nghiêm khắc những kẻ bạc tình, những tên sở khanh, những hạng vũ phu thô bỉ. Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong thơ Hồ Xuân Hương không những được đặt ngang hàng mà đặt lên trên cả đấng mày râu.

       Thơ Hồ Xuân Hương là một tiếng sấm giữa bầu trời chế độ phong kiến đang thời kì mục ruỗng, là tiếng nói bệnh vực mọi tầng lấp phụ nữ cùng khổ. Chính vì lẽ đó, Hồ Xuân Hương được mệnh danh là Nữ Chúa Thơ Nôm Việt Nam cùng với bao kì tích, huyền thoại, trong đó có một câu chuyện được lưu truyền rộng rãi trong dân gian và tồn tại đến ngày nay đó là việc nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã từng cải trang giả dạng làm trai để được dự thi, trái với quy định của triều đại phong kiến là không cho các nữ sĩ đng đàn dự các kỳ thi tuyển. Song việc không thành, bà đành cam phận trở về với các áng thơ Nôm mang đậm tính đả kích của mình.

       5. Bà Huyện Thanh Quan

       Nổi tiếng là nhà thơ hoài cổ, có nghệ thuật thơ điêu luyện, trang nhã với tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận trên bờ Hồ Tây, Hà Nội bây giờ.

       Chồng bà là Lưu Nguyên Ôn, người làng Nguyện A’ng, huyện Thanh Trì, nay thuộc Hà Nội, từng làm tri huyện Thanh Quan. Có lẽ thế, mọi người quen gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan.

       Sáng tác của bà là những bài thơ nôm theo thể Đường luật, được truyền tụng nhiều là những bài “Qua đèo Ngang”, “Thăng Long thành hoài cổ”, “Chiều hôm nhớ nhà”, “Chùa Trấn Quốc”... tả cảnh thiên nhiên, có những nét chấm phá như tranh thuỷ mặc và có tính ước lệ, nhưng thường được gửi gắm tình cảm gợi lên được cái cảm giác nhớ thương lưu luyến đối với quá khứ.

       Có kiến thức rộng, bà đã từng được vua Minh Mệnh mời vào cung dạy học cho cung phi, công chúa. Ở trong cung, bà có dịp xướng hoạ thơ và bình văn với các vua nhà Nguyễn.

       Bà Huyện Thanh Quan là một nữ sĩ có tiếng tăm trên lĩnh vực văn học dân tộc ta ở nửa đầu thế kỉ XIX.

       6. Võ Thị Sáu (1937-1953)

       Quê ở tỉnh Và Rịa, chị được gọi là “Người con gái đất đỏ”

       Khi giặc Pháp tràn đến quê hương, Võ Thị Sáu mới 12 tuổi, đã ném lựu đạn giết chết ba tên chỉ huy Pháp. Chị nổi tiếng về tài tình báo, biệt động và giao liên đặc biệt, ám sát hụt tên việt gian Đốc phủ Tòng. Võ Thị Sáu bị Pháp bắt năm 15 tuổi, trong tù chị vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng.

       Tháng 12 năm 1952, Pháp đem chị ra Côn Đảo giam ở nhà lao “Đá trắng”. Vốn thích múa hát từ nhỏ, khám tử hình không làm cho chị thôi hát.

       Khi giặc xử bắn chị, đưa một cố đạo đến rửa tội, chị mắng “Tao là người yêu nước, tao không có tội, chỉ có chúng mày là quân cướp nước tao, giết dân tao mới là kẻ có tội”.

       Trước khi chết, chị hô vang: “Việt Nam muôn năm! Bác Hồ muôn năm!”. Võ Thị Sáu hi sinh khi chưa đầy 17 tuổi.

       7. Nguyễn Thị Út (1920-1969)

       Bí danh Út Tịch, Anh hùng quân đội thời chống Mỹ, là người mẹ của sáu đứa con, vừa giỏi việc nước, vừa đảm việc nhà, đánh giặc rất hăng hái, có nhiều mưu mẹo tài tình, khi có thai 8 tháng vẫn chỉ huy du kích hạ hai đồn giặc.

       Chị sinh năm 1920, ở Cầu Kè, huyện Bến Cát tỉnh Trà Vinh. Ngay từ nhỏ, chị đi ở đợ cho địa chủ, khi lấy chồng, hai vợ chồng đều đi bộ đội cho tới ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Làm tải thương, trinh sát, chị cùng bộ đội tham gia nhiều trận đánh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

       Một lần phát hiện thấy một đại đội địch đi càn, chị chạy tắt đường về tiểu đội du kích bày kết hoạch đánh địch. Bố trí trận xong, chị chạy về cho con nhỏ bú và dắt con lớn xuống hầm ẩn nấp, rồi lại trở ra trận địa, chờ quân địch vào gần, chị nổ súng tiêu diệt gọn.

       Câu nói nổi tiếng của chị “đánh giặc còn cái lai quần cũng đánh” thể hiện ý chí kiên cường giữ nước, giữ nhà của chị. Khi hoạn nạn, lúc khó khn, chị vẫn sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, tận tình giúp đỡ, thương yêu đồng đội nên được mọi người tin yêu, đùm bọc.

       8. Sự tích về 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc

       Ngã ba Đồng Lộc nằm trên đường Trường Sơn, thuộc địa phận phường Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ngã ba Đồng Lộc có tổng diện tích 50ha nằm gọn trong một thung lũng hình tam giác, hai bên đồi núi trọc, giữa là con đường độc đạo, mặt đường giống như một lòng máng, bom địch thả xuống bên nào đất đá cũng lăn xuống đường làm cản trở giao thông.

       Tất cả mọi con đường từ Bắc vào Nam đều phải vượt qua ngã ba Đồng Lộc. Ngã ba Đồng Lộc được coi như cổ họng, vượt qua được sẽ phân tán toả ra nhiều tuyến đường khác nhau đi vào nam. Ngã ba Đồng Lộc là trọng điểm có tầm quan trọng chiến lược nên trong chiến tranh phá hoại kẻ địch âm mưu ném bom huỷ diệt nhằm chặn đứt sự chi viện sức người, sức của, vũ khí, súng đạn, lương thực... của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Chỉ tính riêng 240 ngày đêm từ tháng 3 đến tháng 10/1968 không quân địch đã trút xuống đây 48.600 quả bom các loại.

       Hồi 17h ngày 24/7/1968, tiểu đội 4 thanh niên xung phong được lệnh trọng điểm ở khu vực địch vừa thả bom để san lập hố bom sửa chữa đường, kết hợp sửa chữa hầm trú ẩn khơi sâu rãnh thoát nước ở đoạn đường độc đạo để nhanh chóng thông đường cho xe qua. Tiểu đội 4 hôm ấy có 10 cô gái trẻ:

       1.Võ Thị Tần, 22 tuổi, tiểu đội trưởng

       2. Hồ Thị Cúc, 21 tuổi, tiểu đội phó

       3. Võ Thị Hợi, 20 tuổi, chiến sĩ

       4. Nguyễn Thị Xuân, 20 tuổi, chiến sĩ

       5. Dương Thị Xuân, 19 tuổi, chiến sĩ

       6. Trần Thị Rạng, 19 tuổi, chiến sĩ

       7. Hà Thị Xanh, 18 tuổi, chiến sĩ

       8. Nguyễn Thị Nhỏ, 19 tuổi, chiến sĩ

       9. Võ Thị Hạ, 19 tuổi, chiến sĩ

       10. Trần Thị Hường, 17 tuổi, chiến sĩ.

       Nhận nhiệm vụ xong, các cô đến hiện trường gấp rút triển khai công việc với cả niềm vui được gửi gắm trên từng chiếc xe qua nên các cô không hề sợ hãi. Họ làm việc không ngơi tay, vừa cười, vừa nói, vừa ý ới gọi nhau. Bỗng một tốp máy bay phản lực từ hướng Bắc vào Nam vượt qua trọng điểm. Tất cả các cô nhanh chóng nằm rạp xuống đường. Hết tiếng máy bay các cô lại chồm dậy làm việc. Bất ngờ tốp máy bay phản lực quay lại bay từ trong ra thả một loạt bom rơi đúng vào đội hình 10 cô gái. Các tiểu đội thanh niên xung phong đi sau chồm lên gào thét, nhân dân xóm Bãi Dĩa quanh đấy cũng lao ra gọi tên từng người. Khi đến nơi quả bom vừa nổ chỉ thấy một hố bom sâu hoắm, một vài chiếc xẻng, cuốc văng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy một tiếng người. Cả 10 cô gái trẻ ấy đã hi sinh.

       Để ghi sâu tội ác và ghi lại chiến tích của 10 cô gái tại trọng điểm lịch sử này Quốc hội và Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng danh hiệu anh hùng cho 10 cô gái hi sinh tại ngã ba Đồng Lộc.

       9. Nguyễn Thị Định (1920-1992)

       Nguyễn Thị Định quê Lương Hoà, Giồng Trôm, Bến Tre. Tham gia cách mạng năm 1936, ăm 1940 - 1943 bị địch bắt giam tại Trạm giam Bà Rá, năm 1945 tham gia lãnh đạo chính quyền tỉnh Bến Tre, năm 1960 là Bí thư tỉnh uỷ Bến Tre, năm 1965 nhập ngũ, năm 1974 được phong quân hàm Thiếu tướng, năm 1980 là Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đại biểu Quốc hội khoá VI, VII, VIII, năm 1987-1992 trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

       Nguyễn Thị Định sinh ra trong một gia đình nông dân giầu truyền thống yêu nước, là người phụ nữ thông minh, đôn hậu, khiêm nhường và ccó sức thuyết phục đối với mọi tầng lớp phụ nữ và nhân dân trong nước và quốc tế.

       Ngay từ những năm 1946, đất nước bị chia cắt hai miền, Nguyễn Thị Định đã là một phái viên của Nam Bộ bất chấp hiểu nguy trước phong ba bão tố và sự vây hãm của kẻ thù, bí mật vượt trên 3000km đường biển ra Hà Nội nhận chỉ thị của Trung ương và chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường. Trên đường về, Nguyễn Thị Định đã hình thành được đưòng dây vận tải từ Bắc vào Nam. Chuyến vượt biển mở đường của Nguyễn Thị Định đã trở thành bài học kinh nghiệm hoạt động của phong trào chiến tranh du kích Việt Nam. Tháng 9/1972, chuyến hàng chi viện đầu tiên của Trung ương đến miền Nam đã mở ra “Con đường Hồ Chí Minh trên biển” và đoàn vận tải mang biển số “962” đã trở thành đơn vị vận tải anh hùng trên chiến trường ven biển Nam Bộ.

       Năm 1959, Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam bị vi phạm nghiêm trọng, ngụy quyền tay sai đế quốc với luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam để khủng bố phong trào cách mạng. Nguyễn Thị Định là người khởi xướng và lãnh đạo chủ chốt phong trào Đồng khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre, mở đầu phong trào Đồng khởi trong toàn tỉnh và vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Từ phong trào Đồng khởi xuất hiện cái tên “Đội quân tóc dài” là những phụ nữ thuộc mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi không một tấc sắt trong tay song lại có sức mạnh phi thường đã phá vỡ nhiều thủ đoạn thâm độc, nhiều cuộc càn quét lớn của địch. Thắng lợi của “đội quân tóc dài” đã hình thành phương châm “Hai chân, ba mũi giáp công” của đường lối chiến tranh nhân dân ở Việt nam. Đội quân tóc dài niềm tự hào của dân tộc nỗi khiếp sợ của kẻ thù đã ghi lại dấu ấn một thời kì lịch sử oanh liệt của dân tộc.

       Từ 1976, đất nước thống nhất, Nguyễn Thị Định từ một nữ tướng kiên cường mưu lược trong chỉ huy chiến đấu đã trở thành nhà quản lý lãnh đạo đất nước trung thực và liêm khiết chăm lo đến đời sống của những người dân nghèo khổ trong hoà bình xây dựng. Bà đã dành nhiều tâm lực ở cuối đời vào ý tưởng nhân văn cao đẹp như đỡ đầu Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, một công trình văn hoá có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với phụ nữ và nhân dân Việt Nam.

       Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thị Định đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, Giải thưởng hoà bình Quốc tế Lê Nin. Giáo sư sử học Christine Whate Trường Đại học Tổng hợp Hawai Mỹ đã viết thư gửi Nguyễn Thị Định bằng tiếng Việt: “Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thăm Bà - một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của Bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống Cách mạng Việt Nam”.

       Năm 1992, Nguyễn Thị Định qua đời sau một cơn đau tim đột ngột. Hầu hết các tỉnh, thành, Hội phụ nữ trong cả nước đều lập bàn thờ để tưởng nhớ đến bà theo triết lí dân gian: “Sống làm tướng chết thành thần”. Nhân dân Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Tây nơi thờ Hai Bà Trưng đã rước bát hương thờ bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà như một vị nhân thần mới. Nhiều địa phương đã đặt tên trường học Nguyễn Thị Định, quỹ hỗ trợ trẻ em nghèo hiếu học mang tên Nguyễn Thị Định.... Hình ảnh Nguyễn Thị Định đã trở thành bất tử trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế.

       10. Nguyễn Thị Bình

       Bà Nguyễn Thị Bình sinh năm 1927 tại Sa-đéc, tỉnh Đồng Tháp, cháu ngoại cụ Phan Chu Trinh, nhà chí sĩ yêu nước đầu thế kỉ XX.

       Kế thừa truyền thống yêu nước của gia đình, bà sớm tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của đất nước (1945). Bà là một trong những người lãnh đạo phong trào Phụ nữ cứu quốc Sài Gòn - Chợ Lớn; tham gia lãnh đạo phong trào học sinh sinh viên, phong trào phụ nữ cấp tiến với cái tên “Yến Sa”, “Yến đẹp”; tham gia tích cực phong trào đấu tranh bảo vệ hoà bình của giới trí thức; bị bắt và bị tù giam tại khám Chí Hoà 1951 – 1953; là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam (1966), rồi Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Trưởng phái đoàn đàm phán tại Hội nghị quốc tế Pa-ri về Việt Nam, là một trong bốn bên ký kết Hiệp định Pa-ri về Việt Nam năm 1973; Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Chính phủ CHXHCN Việt Nam 1976-1987; từ năm 1992 là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

       Sinh ra trong một gia đình gia giáo, được giác ngộ và trưởng thành trong phong trào cách mạng của quần chúng, Nguyễn Thị Bình là người phụ nữ thông minh, duyên dáng, khiêm nhường và có tài thuyết phục. Trong hoạt động ngoại giao khi tiếp xúc với các nguyên thủ quốc gia, với các chính khách cũng như đông đảo nhân dân khắp các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ la-tinh..., bà đã để lại ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế. Đặc biệt ở thời điểm 1969-1975, với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Nguyễn Thị Bình đã đi tham nhiều nước trên thế giới để tuyên truyền, vận động các nước ủng hộ cuộc đấu tranh đòi hòa bình, giành độc lập và thống nhất tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Bà đã góp phần xứng đáng làm sáng tỏ sự nghiệp chính nghĩa của một dân tộc “thà hi sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Cho đến nay, nhân dân Việt Nam và nhân dân nhiều nước đều đánh giá phong trào thế giới ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm lược trong những năm 60, đầu những năm 70 mạnh mẽ, sâu rộng chưa từng có trong lịch sử.

       Vai trò và sự đóng góp của vị “sứ giả hoà bình” Nguyễn Thị Bình là một biểu tượng sáng giá của Việt Nam ở những năm cuối thế kỉ XX.

 

NHỮNG CHIẾN CÔNG LẪY LỪNG CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từ trần vào hồi 18h ngày 4/10/2013. Người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã ra đi nhưng tên tuổi và những chiến công hiển hách của ông vẫn mãi khắc ghi trong lịch sử hào hùng của dân tộc.

Là Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là chỉ huy chính trong Chiến tranh Đông Dương (1946–1954) và chiến tranh Việt Nam (1960–1975).

Ông cũng trực tiếp và tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng như Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950, trận Điện Biên Phủ (1954), Chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch Xuân Hè năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh…

Chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là chỉ huy trưởng kiêm chính ủy mặt trận của chiến dịch này. Ông đã lãnh đạo 29.500 binh sĩ đánh bại 10 tiểu đoàn Âu Phi, 1 tiểu đoàn và 9 đại đội lính Việt của Pháp, phá hủy hoàn toàn vành đai đồn bốt Pháp thực hiện sau năm 1947 để bao vây Việt Bắc. Chiến dịch khai thông biên giới Việt-Trung (từ Cao Bằng đến Đình Lập), mở rộng địa bàn kiểm soát lên đến 4.000 km2 và 35 vạn dân.

Chiến dịch Biên Giới nối tiếp hàng loạt các nỗ lực thực hành đánh công kiên xung quanh Việt Bắc, từ Lào Cai,Yên Bái (đồn Phố Lu) cho đến Lạng Sơn, Quảng Ninh (các đồn An Châu, Phố Ràng...). Sau chiến dịch này, quân Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi thế bao vây, thành lập nhóm cơ động gồm các đại đoàn mạnh, mở nhiều cuộc tiến công lớn xa căn cứ Việt Bắc, giành quyền chủ động từ tay quân Pháp.

Đây là chiến dịch đầu tiên mà Quân Đội Nhân Dân Việt Nam chủ động tấn công, làm thay đổi cục diện chiến trường: bắt đầu giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Quân Pháp thất bại lớn cả về quân sự và chính trị, bị đẩy lùi vào thế phòng ngự bị động. Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Pháp

Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu

Đây cũng là chiến dịch đưa tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi tiếng khắp năm châu, đánh dấu sự thành công của nghệ thuật chiến tranh du kích do ông áp dụng. Ông cũng chuyển phương án tác chiến từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Chậm mà chắc” và đã thành công.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu cực kỳ anh dũng, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng. Ta tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, bắn rơi và phá huỷ 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, kho xăng, đạn dược, quân trang quân dụng. Tướng Đờ-cat-tơ-ri và toàn bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm của địch bị bắt sống. Gần 1 vạn quân địch nhảy ra khỏi hầm xin hàng. Đêm đó ta tấn công bắt sống toàn bộ quân địch ở phân khu Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống Pháp xâm lược. “Đã được ghi vào lịch sử như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa ở thế kỷ 20 và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc” (cố Tổng Bí thư Lê Duẩn)..

Chiến dịch Hồ Chí Minh

Chiến dịch Hồ Chí Minh, là chiến dịch cuối cùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và cũng là chiến dịch cuối cùng của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Chiến thắng này đã chấm dứt hoàn toàn sự chia cắt hai miền Nam - Bắc Việt Nam sau 21 năm, đưa đến việc thống nhất xã hội, chế độ chính trị, dân cư và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên đất liền, vùng lãnh hải, vùng trời và một số hải đảo.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong vai trò chỉ huy đã lựa chọn phương châm tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để tác chiến. Thay vì đánh thẳng vào “bộ não” của địch ở Sài Gòn, quân ta chọn Buôn Mê Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch. Mưu kế chiến lược của ông là bày ra một hình thế giàn trận chiến lược - bày binh bố trận nhằm ghìm địch ở hai đầu Nam Bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng để tạo thế phá vỡ Tây Nguyên.

Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên là thắng lợi của mưu kế, của sự đấu mưu đấu trí, của tinh thần chiến đấu và dựa vào thế trận lòng dân. Từ chiến thắng Tây Nguyên đã tạo thế cho chiến dịch gối đầu Huế - Đà Nẵng được mở ra nhanh chóng giành được những thắng lợi liên tiếp. Ngay khi giải phóng Đà Nẵng, nắm bắt thời cơ, ngày 29/3/1975 Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp quyết định giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975.

Đây là một quyết định rất sáng suốt, rất triệt để cách mạng theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là: đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào. Nắm chắc thời cơ đó, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã ra lệnh cho các đơn vị đang đổ vào chiến trường: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận giải phóng mền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”.

TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ VÀ CÁCH BỎ

Bài viết và hình ảnh về tác hại của thuốc lá.

Nội dung đính kèm:
1. Download this file (TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ VÀ CÁCH BỎ.doc)TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ VÀ CÁCH BỎ[ ]301 Kb

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐOÀN TRƯỜNG NĂM HỌC 2013-2014

Đại hội Đại biểu Đoàn Trường THPT Hà Huy Tập

năm học 2013 – 2014

       Sáng ngày 22/9/2013, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trường THPT Hà Huy Tập long trọng tổ chức Đại hội Đại biểu nhiệm kỳ 2013 - 2014.

       Tới dự và chỉ đạo Đại hội có các đồng chí:  Nguyễn Thị Ly - Phó Bí thư Thành đoàn Tam Kỳ; Lại Thế Nam - Bí thư Chi bộ - Hiệu trưởng nhà trường, các đồng chí trong Ban Giám hiệu, Công đoàn, các tổ chuyên môn, Đoàn thanh niên khối trường trên địa bàn thành phố; các đồng chí trong BCH Đoàn trường cùng với 60 đại biểu ưu tú đại diện cho 9 chi đoàn toàn trường.

       Trong năm qua, Đoàn trường THPT Hà Huy Tập tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Các hoạt động Đoàn trong Nhà trường đã góp phần làm chuyển biến tích cực, rõ nét về nhận thức và hành động của đoàn viên, học sinh bằng những việc làm thiết thực, cụ thể. Tổ chức Chương trình “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt Nam” gắn với các tiết sinh hoạt chung của trường, của chi đoàn; tuyên dương khen thưởng những tập thể và cá nhân xuất sắc trong công tác Đoàn. Các hoạt động mang tích giáo dục được Đoàn trường tổ chức thường xuyên và đã trở thành truyền thống như Lễ tri ân và trưởng thành cho học sinh khối 12, sinh hoạt dưới cờ “Khi tôi 18”, phong trào giúp bạn đến trường. Thực hiện có hiệu quả mô hình Cổng trường trật tự an toàn giao thông”, trong đó chú trọng các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức, giáo dục ý thức chấp hành luật an toàn giao thông. Đoàn viên thanh niên Nhà trường thực hiện tốt cuộc vận động “Nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục” và phong trào Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; tích cực đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong học tập, thi và kiểm tra góp phần tạo môi trường giáo dục lành mạnh. Đại hội đã nghe các ý kiến tham luận làm rõ thêm thành tích cũng như những nhiệm vụ mới của năm học 2013 - 2014. Đặc biệt, Đại hội đã nghe đồng chí Nguyễn Thị Ly - Phó Bí thư Thành đoàn Tam Kỳ, đồng chí Lại Thế Nam - Bí thư Chi bộ - Hiệu trưởng nhà trường biểu dương những thành tích đạt được của đoàn trường. Đồng thời cũng chỉ rõ những hạn chế cần khắc phục  để thực hiện tốt Nghị quyết của Đại hội Đoàn trường trong nhiệm kỳ mới.

      Đại hội Đoàn trường THPT Hà Huy Tập năm học 2013 - 2014 đã thành công tốt đẹp. Đại hội đã bầu 9 đồng chí có phẩm chất đạo đức, tri thức và năng lực công tác đoàn, tiêu biểu cho ý chí, nguyện vọng của đoàn viên thanh niên trong toàn trường tiếp tục gánh vác nhiệm vụ lãnh đạo công tác đoàn trong nhiệm kỳ 2013 - 2014. 

BAN THƯỜNG VỤ ĐOÀN TRƯỜNG

ĐẠI HỘI CHI ĐOÀN GIÁO VIÊN

Thực hiện công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm học 2013-2014.Được sự cho phép của chi bộ, của Đoàn trường THPT Hà Huy Tập. Ngày 11/9/2013 chi đoàn giáo viên tổ chức Đại hội nhiệm kỳ 2013-2014. Đại hội nhằm tổng kết công tác và phong trào thanh niên nhiệm kỳ qua, đề ra phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ tới và bầu ra một Ban chấp hành đầy đủ năng lực, phẩm chất để lãnh đạo chi đoàn ngày càng vững mạnh .

Về tham dự Đại hội có đ/c Lại Thế Nam- bí thư chi bộ, hiệu trưởng nhà trường; đ/c Phùng Lý Xuân- phó hiệu trưởng; đ/c Bùi Quang Dũng-bí thư Đoàn trường; các đ/c tổ trưởng và trưởng các đoàn thể, cùng 20 đ/c đoàn viên trong chi đoàn tham dự.

Đại hôi đã được nghe báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm học 2012-2013, dự thảo phương hướng công tác Đoàn và phong trào thanh niên năm học 2013-2014, đồng thời nhận được ý kiến chỉ đạo của chi bộ, Đoàn trường, đặc biệt Đại hội đã bầu ra được BCH chi đoàn giáo viên năm học 2013-2014 gồm các đ/c sau:

1. Đ/c Nguyễn Thị Mộng Hoa

2. Đ/C Dương Văn Long

3. Đ/C Bùi Thị Kim Thiện

CĐGV

 

 

 

HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN

HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN


Sáng chủ nhật ngày 21/10/2012, CĐGV trường Hà Huy Tập phối hợp với Hội chữ thập đỏ của trường tổ chức một ngày tình nguyện xanh.

 

NHỮNG BÀI HÁT SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG

NHỮNG BÀI HÁT SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG

CHỦ ĐỀ CÁC THÁNG TRONG NĂM HỌC

CHỦ ĐỀ THÁNG

Chương trình công tác Đoàn và phong trào thanh niên trường học

 

Năm học 2012 - 2013

ĐẠI HỘI ĐOÀN TNCS HCM TRƯỜNG THPT HÀ HUY TẬP

Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ chí minh trường THPT Hà Huy Tập

nhiệm kỳ 2012 – 2013

Page 1 of 2

Trường THPTTT Hà Huy Tập - Quảng Nam